Showing posts with label Hồ sơ CLB. Show all posts
Showing posts with label Hồ sơ CLB. Show all posts

Sunday, April 6, 2014

Hồ sơ: Câu lạc bộ AC Milan

Associazione Calcio Milan, thường được gọi tắt là AC Milan hay Milan là một câu lạc bộ bóng đá Ý, đóng tại Milano, Lombardy, họ mặc trang phục thi đấu sọc đỏ và đen, từ đó có tên hiệu rossoneri ("đỏ-đen"). Là một trong những câu lạc bộ thành công nhất trên thế giới, họ đã đoạt Cúp C1 châu Âu 7 lần (đứng thứ hai chỉ sau Real Madrid), Cúp liên lục địa 3 lần, Serie A 17 lần (chỉ đối thủ Juventus là có số lần đoạt Scudetti nhiều hơn) và Cúp Ý 5 lần. Đây cũng là một trong những câu lạc bộ bóng đá được cổ vũ nhiều nhất trên thế giới.

Câu lạc bộ được thành lập năm 1899 bởi Alfred Edwards, một người Anh xa tổ quốc. Để kỷ niệm nguồn gốc của mình, câu lạc bộ giữ lại cách đánh vần kiểu tiếng Anh tên thành phố của nó, thay vì đổi thành theo tiếng Ý là Milano; cần lưu ý rằng cách đánh vần tiếng Ý hiện cho từ này là MEE-lahn.

Về mặt lịch sử, AC Milan (thường được gọi là "Mìlan" ở Italia) được các tầng lớp lao động và những người thuộc các liên đoàn thương mại ủng hộ, trong khi Inter Milan, câu lạc bộ lớn khác cùng thành phố được những tầng lớp giàu có hơn ủng hộ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cả hai câu lạc bộ đã có những sự thay đổi lớn trong thành phần cổ động viên, bởi vì hiện nay AC Milan đang thuộc sở hữu của trùm truyền thông và là người theo đường lối bảo thủ, cựu Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi, trong khi Inter Milan hiện thuộc sở hữu của ông trùm dầu mỏ hơi thiên tả Massimo Moratti. Tuy nhiên, các fan của AC Milan đa số là các người thiên tả trong khi các fan của Inter Milan đa số là các người có truyền thống thiên hữu.

Lịch sử

Thành lập và những năm đầu tiên

Câu lạc bộ, với tên gọi ban đầu là "Câu lạc bộ Cricket và Bóng đá Milan", được Alfred Edwards thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1899. Chủ tịch đầu tiên được bầu là Alfred Edwards, một cựu phó lãnh sự Anh ở Milano, và rất nổi tiếng trong giới thượng lưu của Milano.

Ban đầu đội bóng gồm cả bộ phận cricket, do Edward Berra quản lý, và một bộ phận bóng đá thuộc quyền David Allison. Màu sắc chính thức được lựa chọn là đỏ và đen, để biểu hiện lòng nhiệt tình của các thành viên và sự sợ hãi của các đối thủ khi phải đối mặt với họ. Ngay lập tức, đội bóng giành được vị trí cao dưới sự dẫn dắt của Kilpin; chiến tích đầu tiên là Medaglia del Re (Huy chương Nhà Vua) vào tháng 1 năm 1900, và thắng ba giải quốc gia, các năm 1901, 1906 và 1907. Thắng lợi năm 1901 đặc biệt xứng đáng bởi vì họ đã chặn đứng mạch thắng liên tục của Câu lạc bộ Genoa C.F.C., khi ấy là đội bóng duy nhất thắng lợi ở giải nước Ý cho tới trước năm đó. Năm 1908, vì những vấn đề liên quan tới ý muốn ký hợp đồng với những cầu thủ nước ngoài, một nhóm "cải cách" tách khỏi AC Milan và lập ra Internazionale Milano (được biết đến với cái tên Inter). Năm 1916, AC Milan đoạt Cúp Liên Đoàn, một loại cúp quốc gia thay thế cho giải Italia, lúc ấy đang bị gián đoạn vì Thế chiến thứ nhất. Cúp đó không bao giờ được công nhận là danh hiệu của Italia.

Năm 1919, đội bóng đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Milan. Sau những thắng lợi đầu tiên, Milan không còn tiếp tục được mạch thắng lợi đó nữa, họ chỉ đứng ở vị trí giữa bảng xếp hạng, dù luôn chơi ở giải hạng nhất Italia. Năm 1938 chế độ Phát xít áp đặt một cái tên kiểu Ý cho câu lạc bộ là Associazione Calcio Milano. Tuy nhiên, cái tên đó đã bị hủy bỏ ngay sau khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, nhưng vẫn giữ lại được phần đầu tiên: đội bóng được gọi là Associazione Calcio Milan, và hiện đây là tên chính thức.

Thập kỷ 1950 huyền thoại

Trong giai đoạn hậu chiến, AC Milan luôn nằm trong tốp ba câu lạc bộ hàng đầu Italia, và đã đoạt scudetto đầu tiên sau 44 năm vào năm 1951. Milan với bộ ba nổi tiếng Gre-No-Li người Thụy Điển là Gunnar Gren, Gunnar Nordahl và Nils Liedholm đã đoạt nhiều thắng lợi trên cả mặt trận trong nước và đấu trường châu lục. Khi ấy câu lạc bộ cũng có các cầu thủ Lorenzo Buffon, Cesare Maldini và Carlo Annovazzi. Sau scudetto năm 1951, AC Milan đoạt tiếp chức vô địch ba mùa giải Serie A năm 1955, 1957 và 1959, và hai Latin Cups, năm 1951 và 1956. Cuối cùng, trong các mùa giải từ 1947/1948 đến 1957/1957, AC Milan luôn nằm trong tốp ba câu lạc bộ đứng đầu.

Giai đoạn Nereo Rocco

AC Milan quay trở lại và thắng lợi ở giải 1961/1962. Huấn luyện viên Nereo Rocco của họ là người cải cách, nổi tiếng vì đã phát minh ra chiến thuật phòng ngự bê tông (catenaccio). Đội bóng cũng có sự đóng góp của cầu thủ trẻ Gianni Rivera và José Altafini. Mùa giải tiếp sau, nhờ những bàn thắng của Altafini, Milan giành Champions League đầu tiên, sau trận chung kết với tỷ số 2-1 trước SL Benfica trên sân vận động Wembley huyền thoại. Đây là lần đầu tiên một câu lạc bộ bóng đá Italia đoạt Champions League. Dù vậy, trong thập kỷ 1960 Milan giành được ít thắng lợi so với tiềm năng, đa phần bởi vì sự cạnh tranh quyết liệt của Helenio Herrera từ Inter.

Chỉ tới mùa giải 1967/1968 họ mới đoạt thêm một scudetto nữa nhờ những bàn thắng của Pierino Prati, cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất Serie A mùa giải đó, và Cúp các đội đoạt cúp, trước Hamburger SV nhờ hai bàn thắng của Kurt Hamrin. Mùa giải tiếp sau AC Milan đoạt Champions League thứ hai (4-1 trước AFC Ajax), và vào năm 1969 đoạt Cúp liên lục địa đầu tiên, sau khi đánh bại Estudiantes de La Plata của Argentina sau hai trận đấu với tỷ số (3-0, 1-2).


 
Paolo Maldini là biểu tượng của quá khứ và hiện tại của AC Milan

Scudetto thứ 10 và xuống Serie B lần đầu tiên

Trong thập kỷ 1970, AC Milan đoạt ba Cúp Italia và Cúp các đội đoạt cúp lần thứ hai; tuy nhiên, mục tiêu thật sự của rossoneri là scudetto lần thứ mười, và nếu thắng thì AC Milan sẽ được phong một ngôi sao cho đội. Mùa giải 1972/1973, AC Milan đã đánh mất nó trong trận cuối cùng, sau trận thua bẽ mặt trước Verona. AC Milan phải đợi tới mùa bóng 1978/1979 để đoạt scudetto lần thứ mười, phần lớn nhờ công đóng góp của Gianni Rivera, người đã từ giã bóng đá sau thắng lợi cuối cùng này.

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất đã tới với rossoneri: sau mùa bóng 1979/1980, AC Milan bị Liên đoàn bóng đá giáng xuống Serie B, cùng S.S. Lazio vì một vụ scandal mà hai đội này đã dàn xếp tỉ số. Năm 1981, sau khi dễ dàng thắng vô địch Serie B để được trở lại Serie A, AC Milan lại trải qua mùa giải tệ hại nhất lịch sử, bị xuống hạng một lần nữa. Đây là lần xuống hạng "thực tế" đầu tiên của AC Milan. Đội lại quay trở lại Serie A năm 1982; tuy nhiên sự kiện đáng ghi nhớ nhất thời kỳ này của Milan lại rất đáng hổ thẹn, họ bị Cavese đánh bại với tỉ số 1-2 trên sân nhà vào mùa giải đó.

Berlusconi nắm quyền chủ tịch

Sau nhiều rắc rối tài chính đưa câu lạc bộ vào những thời điểm đen tối, không giành được bất kỳ thắng lợi nào, ngày 20 tháng 2 năm 1986 AC Milan được Silvio Berlusconi, một doanh nhân người Milano mua lại. Berlusconi đưa về một huấn luyện viên đang nổi, Arrigo Sacchi, và ba cầu thủ Hà Lan, Marco van Basten, Frank Rijkaard và Ruud Gullit, để đưa đội trở lại thời kỳ đỉnh cao. Sacchi giành thắng lợi mùa giải 1987/1988 sau khi vượt qua Napoli của Diego Maradona.

Mùa giải 1988/1989, AC Milan đoạt Champions League lần thứ ba, đánh bại Steaua Bucuresti ở trận chung kết. Mùa giải sau đó, đội bóng tiếp tục đoạt cúp trước Benfica, và giành Cúp liên lục địa lần thứ hai. Chiếc Cúp liên lục địa lần thứ ba và là lần thứ hai liên tiếp rơi vào tay Milan năm 1991 sau khi họ giành thắng lợi trước Olimpia Asuncion. Mạch thắng lợi của Sacchi được Fabio Capello nối tiếp, huấn luyện viên này đã dẫn dắt đội bóng qua một mùa giải thành công và bất bại trước mọi đối thủ Serie A. Ngoài ba lần liên tiếp đoạt scudetto (từ 1992 đến 1994), AC Milan cũng ba lần liên tiếp tham dự chung kết Champions League: năm 1993 họ bị Olympique de Marseille đánh bại; năm 1994, họ đánh bại FC Barcelona với tỉ số "không tưởng" 4-0; và trong trận chung kết năm 1995, Milan một lần nữa lại thất bại trước Ajax Amsterdam.

Trong giai đoạn này Rossoneri bắt đầu được gọi bằng cái tên Gli Invicibili, Kẻ Bất khả chiến bại, với mạch 58 trận liên tục bất bại. Đội bóng với một trong những hàng hậu vệ tốt nhất trong lịch sử với Franco Baresi và Paolo Maldini cùng Dejan Savićević, Zvonimir Boban và Danielle Massaro trên hàng công. Gần đây hơn, sau một giai đoạn khó khăn, AC Milan đã gắng sức quay lại thời vinh quang, với hai danh hiệu trong nước năm 1999 và 2004 và Champions League lần thứ sáu 2003. Mùa giải 2005, dù có một bàn thắng từ rất sớm của Paolo Maldini và hai bàn thắng khác của Hernan Crespo, Milan dẫn 3-0 trong trận chung kết nhưng bị san bằng 3-3, thua ba bàn trong 6 phút của hiệp hai, trước khi thua trận sau những loạt penalty trước Liverpool F.C. từ nước Anh. Đây là lần đầu tiên Milan thua trận chung kết khi mặc đồ thi đấu toàn màu trắng. Ngày 8 tháng 3 năm 2006, Milan đánh bại FC Bayern München của Đức ở vòng knock-out đầu tiên UEFA Champions League và trở thành câu lạc bộ duy nhất ở châu Âu đã tham dự vào tất cả các trận tứ kết ở các mùa giải từ 2002/2003 đến 2005/2006. Vì vậy, câu lạc bộ đã khẳng định được tư cách như là một trong những quyền lực bóng đá châu Âu, và có thể là một trong những câu lạc bộ mạnh nhất châu Âu trong giai đoạn đó. AC Milan đánh bại Olympique Lyonnais 3-1 ở vòng tứ kết mùa giải này (2005-2006) UEFA Champions League - một trận đấu mà Filippo Inzaghi và Andriy Shevchenko đã ghi những bàn thắng ở phút cuối cùng để cứu vãn A.C. Nhờ bàn thắng đó, Shevchenko trở thành người ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại ở Champions League. Milan bị FC Barcelona của Tây Ban Nha đánh bại với tổng tỉ số 0-1 sau hai lượt trận bán kết 2005/06 UEFA Champions League.

Mùa giải 2006-2007, Milan khởi đầu với 8 điểm âm khá chật vật tại Serie A, nhưng lại thi đấu tốt tại UEFA Champions League. Đầu năm 2007, đội bóng mua thêm Ronaldo, tiền đạo này giúp AC Milan thi đấu tốt hơn tại Serie A, giữ chắc ngôi hạng 3 để chú tâm vào Champions League. Tại vòng loại trực tiếp giải vô địch châu Âu, Milan đã chiến thắng lần lượt Bayern Munich, Manchester United, và cuối cùng là Liverpool để lên ngôi vô địch lần thứ 7. Trong trận chung kết, Inzaghi là người hùng, nhưng xuất sắc nhất có lẽ là Kaká, người đoạt giải vua phá lưới với 10 bàn thắng.

Sân vận động

Sân vận động Giuseppe Meazza hiện nay của đội bóng có sức chứa 85.700 người cũng được gọi là San Siro. Sân vận động này được dùng chung với Inter Milan (cũng gọi là "Inter"), một câu lạc bộ bóng đá lớn khác ở Milano. Những cổ động viên của AC Milan thích dùng tên "San Siro" để chỉ sân vận động bởi vì Giuseppe Meazza từng là một ngôi sao của Inter. Ngày 19 tháng 12 năm 2005, Phó chủ tịch đồng thời là Tổng giám đốc của AC Milan, Adriano Galliani, thông báo rằng đội bóng đang có kế hoạch nghiêm túc để rời khỏi San Siro. Ông nói rằng sân vận động mới của Milan sẽ dựa theo kiểu sân Schalke Arena và theo những tiêu chuẩn sân dành riêng cho bóng đá (không có các đường chạy điền kinh). Tên của sân vận động mới này sẽ được trao quyền cho những nhà tài trợ.


 
Sân nhà San Siro với sức chứa 80.000 chỗ ngồi

Những số áo được vinh danh và không đem ra sử dụng nữa

Số 3 của  Paolo Maldini, (1984-) sau khi anh từ giã sân cỏ, số áo số 3 đã được chỉ định là sẽ chỉ có con trai của anh Christian (sinh ngày 16 tháng 6 năm 1996, tại Milano) có thể sử dụng
Số 6 của  Franco Baresi, (1977-1997)

Những chức vô địch

Một trong những câu lạc bộ thành công nhất trên thế giới, họ đã đoạt chiếc Cúp Châu Âu danh giá 7 lần, Serie A 17 lần và cúp quốc gia 5 lần.

Scudetto: 18
1901, 1906, 1907, 1950/51, 1954/55, 1956/57, 1958/59, 1961/62, 1967/68, 1978/79, 1987/88, 1991/92, 1992/93, 1993/94, 1995/96, 1998/99, 2003/04, 2010/11

Cúp C1: 7
1962/63, 1968/69, 1988/89, 1989/90, 1993/94, 2002/03, 2006/07
Vào chung kết: 1957/58, 1992/93, 1994/95, 2004/05

Cúp quốc gia Ý: 5
1966/67, 1971/72, 1972/73, 1976/77, 2002/03
Vào chung kết: 1957/58, 1992/93, 1994/95, 2004/05

Siêu cúp Ý: 6
1988, 1992, 1993, 1994, 2004. 2011
Vào chung kết: 1941/42, 1967/68, 1970/71, 1974/75, 1984/85, 1989/90, 1997/98

Siêu cúp châu Âu: 5
1989, 1990, 1994, 2003, 2007
Vào chung kết: 1974, 1994

Cúp liên lục địa: 3
1969, 1989, 1990,2007, 1994, 2003

Cúp C2: 2
1967/68, 1972/73
Vào chung kết: 1973/74


Hồ sơ: CLB Manchester United

CLB Manchester United có một lịch sử gắn liền với ngành đường sắt nước Anh, được ra đời từ một đội bóng thuộc ngành đường sắt với tên gọi ban đầu là Piccaldilly Station ở Hạt Lancashire & Yorksshire, thành Manhchester. Đây là một nhà ga lớn nhất phố Manchester, những người trong ngành đường sắt nói chung và từng làm việc ở nhà ga Piccadilly Station nói riêng ngày nay rất tự hào về đội bóng của mình đã sản sinh ra một CLB bóng đá nổi tiếng và giàu có nhất thế giới dưới cái tên Manchester United, hay Man Utd, hoặc chỉ cần nói United là cả thế giới đều biết đến.
Những chàng trai xứ sở Carriage & Yorkshire tại Piccadilly Station thuộc trung tâm thể thao Newton Heath chơi bóng dưới nhiều tên gọi khác nhau như đội Toa Xe Lửa, đội Vận chuyền Đường sắt… Vào năm 1878, các nhân viên nhà ga vốn là những người chăm chỉ, gan dạ đã thành lập một đội bóng hùng mạnh với tên gọi Newton Heath LYR và họ chọn một bãi chứa toa xe gần nhà ga ở đường North road để làm sân nhà. Đầu tiên, các cầu thủ thi đấu với các đội ngành khác hoặc với các đối thủ thuộc công ty đường sắt khác. Khi giải bóng đá vô địch quốc gia Anh được thành lập vào năm 1888, Newton Heath tự cảm thấy không đủ mạnh để cạnh tranh với các cầu thủ của Preston North và Blackburn, nhưng tiếng tăm của họ ngày càng tăng và chỉ trong vòng 4 năm họ đã gia nhập vào thành phần các đội bóng mạnh. Họ cũng trải qua nhiều thăng trầm và có lúc gần như giải thể, nhưng cuối cùng vào năm 1902 họ đã hồi sinh dưới tên gọi CLB bóng đá Manchester United, một cái tên mà ngày nay được cả thế giới ngưỡng mộ.
Đôi nét về CLB Newton Heath
Ngay sau khi được thành lập, CLB Newton Heath bắt đầu ngự trị các đối thủ trong vùng. Trong năm 1888 họ không để thua một trận nào trên sânnhà cho đến tận tháng 10, trong một chuyến thi đấu ở nước ngoài họ mới bị thua một đội bóng Canada. Dần dần CLB đã bắt đầu hướng tới những trận đấu ở trình độ cao hơn cho tương xứng với các tài năng của mình. Năm 1890 Newton Heath xin tham dự giải cup quốc gia (Football League), tuy nhiên nguyện vọng của họ không được chấp nhận và họ chỉ nhận được 1 phiếu ủng hộ. Sau đó họ cùng các CLB không là thành viên của Football League thành lập mộ tổ chức được gọi là Football Alliance. Kể từ đây Newton Heath đã vận động mạnh mẽ nhằm gây ấn tượng với quan chức của Football League. Mùa hè năm 1892, sau 3 lần xin ra nhập liên tiếp họ đã được chấp thuận và lúc này Football League được chia thành 2 hạng, hạng nhì được thành lập và hạng nhất được mở rộng. Newton Heath được bầu vào giải hạng nhất, đối thủ đồng hương của họ là Ardwick ( sau này là Manchester City) ra nhập nhóm hạng nhì.
Giải VĐQG (Football League)
Sự nghiệp của Newton Heath tại Football League không thực sự nổi trội hay đặc biệt sôi động. Sau khi bị CLB Blackburn đánh bại trong trận đầu tiên, 6 trận tiếp sau họ vẫn không giành được thắng lợi nào, duy chỉ được 1 điểm sau trận hoà Burnley. Newton Heath sau này được biết đến là Heathens, kết thúc một mùa giải Football League với vị trí cuối cùng trong bảng xếp hạng( bị thủng lưới 85 bàn và chỉ ghi được 15 bàn). Newton chỉ trụ được ở giải hạng nhất sau thắng lợi ở trận đấu loại gặp đội bóng hạng nhì Small Heath( đội sau này trở thành CLB Birmingham City)
SVĐ Bank Street
Năm 1893 là thời kì của Newton Heath, khi ấy họ lấy SVĐ Bank Street ở quận Clayton là địa điểm thi đấu trên sân nhà. Ban giám đốc đã chuyền CLB từ trung tâm thành phố về phố Bank Street ở quận Clayton. Người ta hy vọng rằng sân đấu mới này sẽ trở thành một cấu trường thực sự sôi động, mở đầu một kỷ nguyên phát triển CLB, nhưng trớ trêu thay SVĐ Bank Street gặp phải nhiều vấn đề , mặt sân đầy cát, bùn và cỏ, nhà máy bên cạnh thải ra khí độc, gió thổi tung cát bụi mù. Mùa thứ 2 của Newton Heath kết thúc không mấy thành công hơn mùa giải trước, trong số 30 trận đấu họ chỉ thắng 6 trận và lại một lần nữa tụt xuống cuối bảng xếp hạng. Lần này họ đã thua trong trận đấu loại với Liverpool và bị rớt xuống hạng nhì.
Chiến thắng kỷ lục
Sân Bank Street đã mang lại cho Heathens 1 chiến thắng vẻ vang. Vào ngày 9 tháng 3 năm 1895, lần này họ tiếp đội khách Walsall Town Swifts. HLV đội khách quan sát sân đấu và đã làm một văn bản phàn nàn về điều kiện sân đấu. Làm sao đội của ông lại có thể chơi ở sân bóng đầy cát và ẩm ướt, cỏ bị gãy nát? Với cử chỉ đầy thiện chí, đội chủ nhà đã cho đổ thêm cát vào sân nhưng lời khiếu nại vẫn không được rút lại. Trận đấu tiếp diễn và Newton Heath đã đánh bại Walsall Town với tỷ số khủng khiếp 14-0. Nhưng đáng buồn thay kết quả này chỉ được biết đến trong truyền thuyết chứ không có bất kỳ văn bản nào thống kê chính thức nào, bởi sự khiếu nại của Walsall trước đó và trận đấu bị công bố là không có giá trị pháp lý.

Xuống dốc đến mức gần bị giải thể
Vào năm 1897, Newton Heath thi đấu ở giải hạng nhì, họ đá nhiều trận đấu vơt nhưng vẫn không thể thăng hạng. Sang năm 1898, Manchester City đã vượt qua Newton leo lên giải hạng nhất. Năm 1899, tiền đạo Henry Boyd vi phạm kỷ luật và sau đó hàng loạt các cầu thủ chủ chốt khác cung bị treo giò, việc thay thế người không thể làm thay đổi được tình thế xuống dốc thê thảm của Newton Heath. Tinh thần sa sút, thi đấu ngày càng tồi tệ, số lượng người xem giảm sút đáng kể. Tương lai tài chính của CLB mấp mé đứng trên bờ vực thẳm.
Sự hình thành của Manchester United
Vào ngày 9 tháng 1 năm 1902, William Healey, chủ tịch của Newton Heath và một trong những nhà tài trợ chính của CLB phải ra toà buộc ông phải chấm dứt hoạt động.Vào lúc đó ông bị mắc nợ một khoảng tiền rất lớn gần bằng với số vốn của CLB và CLB fải tuyên bố phá sản với khoản nợ 2600 bảng. Tờ Tn buổi tối Manchester tường thuật rằng không ai đặt ra câu hỏi về sự việc này. Harry Stafford, đội trưởng của Heathens đã trở thành người huy động vốn nhiệt huyết nhất. Ông đã kêu gọi quỹ đủ tiền để trang trải chi phí đi lại cho trận đấu trên sân khách Briston. Chiến dịch huy động của ông rất thành công. Ông đã nhận được sự giúp đỡ của giám đốc điều hành của tập đoàn bia ở Manchester, John Henry Davies và 3 thương nhân khác ở Manchester. Mỗi người trong số họ đầu tư 500 bảng dưới hình thức lấy lãi trực tiếp trong việc điều hành CLB. Davies được bầu là chủ tịch mới của Newton Heath. Sau đó ông này bỏ ra 60 ngàn bảng để xây dựng một sân vận động mới- sân Old Trafford

Hồ sơ: Câu lạc bộ Arsenal

Câu lạc bộ bóng đá Arsenal (tiếng Anh: Arsenal Football Club, còn được gọi là The Arsenal hay The Gunners) là một trong những đội bóng thành công nhất trong lịch sử bóng đá Anh và có trụ sở ở phía bắc thủ đô Luân Đôn. Đội có lịch sử rất lâu đời và được rất nhiều cổ động viên trên toàn thế giới hâm mộ. Arsenal FC hiện là thành viên của Nhóm 14 - những câu lạc bộ bóng đá hàng đầu châu Âu.

Arsenal ra đời năm 1886 tại Woolwich, đông nam London và là câu lạc bộ đầu tiên của vùng đông nam nước Anh tham dự giải hạng nhất vào 1893.Năm 1913, câu lạc bộ chuyển lên phía Bắc, lấy Highbury làm sân nhà. Họ dành được những danh lớn đầu tiên vào những năm 1930 với 5 danh hiệu vô địch quốc gia và 2 cúp FA. Sau một thời gian sa sút , Arsenal đã trở trở lại với cú Double vô địch Quốc gia và FA Cup vào mùa bóng 1970-1971 đồng thời là câu lạc bộ thứ hai trong lịch sử bóng đá Anh đạt được thành tích này. Sau đó, phải đến thời của huấn luyện viên Arsene Wenger , Arsenal mới thực sự trở lại với vị thế của một đại gia của bóng đá Anh và Châu Âu với hai cú Double nữa vào năm 1998 và 2002, thành tích vô địch giải bóng đá ngoại hạng Anh mùa 2003-2004 mà không thua một trận nào và gần đây nhất là việc trở thành đội bóng đầu tiên của thủ đô London lọt vào một trận chung kết Champions League. Arsenal là câu lạc bộ có rất nhiều trận Derby như Derby nước Anh với Manchester United, các trận Derby London và đặc biệt là trận Derby Bắc London với Tottenham Hotspur. Năm 2006, câu lạc bộ đã chuyển đến ngôi nhà mới, sân vận động Emirates tại Ashburton Grove, Holloway, cách sân Highbury không xa. Đội nữ Arsenal cũng là một đội bóng thành công trong lịch sủ bóng đá nữ nước Anh.

Lịch sử

Năm 1886, một nhóm công nhân của Royal Arsenal, nhà máy sản xuất đạn dược lớn tại Woolwich đã thành lập ra một đội bóng đá lấy tên là Dial Square. Những sáng lập viên chính là David Danskin, Jack Humble, Fred Beardsley và Morris Bates. Eastern Wanderers được chọn làm đối thủ thử sức đầu tiên. Trận đấu diễn ra vào ngày 11 tháng 12 năm 1896 tại Millwall, trên một mảnh đất nhỏ, kết thúc với tỉ số 6-0 đậm đà nghiêng về Dial Square với Danskin làm đội trưởng. Ngày 24 tháng 12 năm 1986, Dial Square được đổi tên là Royal Arsenal. Câu lạc bộ Nottingham Forest F.C. tài trợ cho đội những bộ đồng phục thi đấu đầu tiên, Plumstead Common được chọn làm sân nhà (năm 1988 chuyển sang sân Manor Field). Năm 1891, Royal Arsenal trở thành câu lạc bộ chuyên nghiệp và đổi tên thành Woolwich Arsenal vào năm 1893. Cùng năm này, Woolwich Arsenal gia nhập giải chuyên nghiệp Football League, bắt đầu ở Giải hạng hai, thăng hạng nhất lần đầu năm 1904 dưới quyền huấn luyện viên Harry Bradshaw.

Arsenal ăn mừng chức vô địch năm 2004


Năm 1910, công ty sở hữu câu lạc bộ lâm vào khó khăn và phá sản, nhưng đó cũng là lúc Henry Norris đến với câu lạc bộ. Người đàn ông nhiều tham vọng này đã đánh dấu những bước ngoặt lớn trong lịch sử, điển hình là việc vượt sông Thames lên phía Bắc, lấy Highbury làm sân nhà vào năm 1913, chính thức lấy tên câu lạc bộ là Arsenal. Năm 1919, cũng nhờ những ảnh hưởng và công vận động của ông, Arsenal được thăng lên hạng nhất dù chỉ đứng thứ 5 tại Giải hạng hai. Đây là sự khởi đầu cho mối mâu thuẫn truyền kiếp giữa Arsenal và người hàng xóm Tottenham Hotspur.

Năm 1925, Arsenal bước vào một kỷ nguyên vàng son với sự xuất hiện của huấn luyện viên huyền thoại Herbert Chapman. Tên tuổi ông lúc đó chẳng hề xa lạ, dưới sự dẫn dắt của ông, đội bóng Huddersfield Town đã có trong tay cúp FA năm 1922 và hai chiến thắng tại giải quốc gia (1923-24 và 1924-25). Những thay đổi mang tính cách mạng của ông về chiến thuật, phương pháp huấn luyện cũng như việc ký hợp đồng với những tài năng lớn Cliff Bastin, Alex James... đã liên tiếp mang chiến thắng đến với sân Highbury. Từ năm 1930 đến năm 1938, Arsenal đã 5 lần vô địch quốc gia và đoạt 2 cup FA. Tuy nhiên Chapman không được chứng kiến tất cả những thành tích đó, ông mất vì chứng viêm phổi năm 1934. Bóng đá thế giới mãi mãi ghi nhận ông như một huyền thoại, với những phát minh lịch sử: hệ thống chiến thuật 3-3-4, số áo cầu thủ, ý tưởng về cup C1 châu Âu... Cũng nhờ ông, năm 1932, nhà ga xe điện ngầm Gillespie Road được đổi tên thành Arsenal, đó là trường hợp duy nhất một câu lạc bộ có nhà ga mang tên mình! Herbert Chapman được bầu chọn là huấn luyện viên vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá Anh Quốc.

Thế chiến thứ hai đã làm gián đoạn những năm tháng quan trọng nhất trong sự nghiệp cầu thủ của nhiều tài năng Arsenal đang ở đỉnh cao phong độ như Ted Drake, Cliff Bastin... Sau chiến tranh, huấn luyện viên Tom Whittaker đưa Arsenal đoạt 2 chức vô địch quốc gia mùa giải 1947–48, 1952–53, và một cup FA mùa giải 1949–50, nhưng sau đó câu lạc bộ chìm vào một thời gian dài suy thoái.

Suốt 17 năm từ 1953, phòng truyền thống của Arsenal không được đón thêm một danh hiệu nào. Đến tận năm 1966, khi huấn luyện viên Bertie Mee được bổ nhiệm, quá trình hồi sinh mới bắt đầu. 10 năm tại vị, huấn luyện viên xuất thân từ một nhà vật lý trị liệu này đã dẫn dắt Arsenal đến danh hiệu châu Âu đầu tiên, đó là Inter Cities Fairs Cup, tức cup UEFA ngày nay vào năm 1970, tiếp đó là cú đúp lịch sử: vô địch quốc gia và đoạt cup FA trong mùa bóng 1970-71. Cú đúp này cũng đánh dấu sự trưởng thành của một lứa cầu thủ trẻ kiệt xuất, về sau được gọi là thế hệ vàng của thập niên 1970: Charlie George, Frank McLintock, George Graham, Bob Wilson, George Amstrong...

Sau thành công đỉnh điểm đó lại là một giai đoạn nhạt nhòa, Arsenal bị thua trong nhiều trận chung kết và không có thêm danh hiệu từ năm 1972 đến 1978. Bertie Mee từ chức năm 1976, lên thay ông là huấn luyện viên Terry Neill. Ông cùng Arsenal đoạt được một chức vô địch FA sau trận chung kết kịch tính thắng Manchester United 3-2 năm 1979, nhưng không thể tiếp nối vinh quang trong những năm đầu thập niên 1980.

Sự trở lại của cựu cầu thủ George Graham trên cương vị huấn luyện viên vào năm 1986 đã đem đến giai đoạn phục hưng thứ ba cho câu lạc bộ. Arsenal đoạt Cup liên đoàn bóng đá Anh ngay mùa giải 1986-87. Mùa giải 1988-89, họ lại có dịp ăn mừng với ngôi vị quán quân Giải vô địch quốc gia, giành được ở những phút cuối trong trận đấu nghẹt thở với Liverpool F.C.. Arsenal lặp lại thành tích đó vào mùa bóng 1990-91 với duy nhất một trận thua. Dưới sự dẫn dắt của Georghe Graham, Arsenal có lối chơi phòng ngự cực kì vững chắc với bộ tứ vệ: Nigel Winterburn, Steve Bould, Tony Adams, Lee Dixon và chàng thủ môn mới đến từ Queens Park Rangers F.C., David Seaman. Chưa dừng lại ở đó, mùa bóng 1992-93, Arsenal chiến thắng ở cả League Cup và FA Cup (thắng Sheffield Wednesday 2-1, bàn thắng quyết định đến vào những phút hiệp phụ bởi Andy Linighan). Cú đúp đó cùng lần xuất hiện thứ 12 trong trận chung kết FA là hai trong số rất nhiều kỉ lục mà câu lạc bộ đã tạo ra ở giai đoạn này. Họ hoàn thành bộ sưu tập danh hiệu với chiếc cup thứ 2 trên đấu trường châu Âu: cup C2, vào năm 1994, thắng Parma F.C. trong trận chung kết với bàn thắng duy nhất của Alan Martin Smith.

Dù cùng câu lạc bộ có được nhiều danh hiệu lớn, George Graham đã có cuộc chia tay không vui vẻ khi phải ra đi năm 1995 do dính vào một số bê bối trong chuyển nhượng cầu thủ. Ba huấn luyện viên kế tiếp ông trong thời gian ngắn đã không thể tiếp tục đem đến vinh quang cho đội chủ sân Highbury.

"Kiến trúc sư" Arsene Wenger đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của CLB Arsenal

Cuối năm 1996, ban lãnh đạo Arsenal quyết định ký hợp đồng với huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ: Arsene Wenger. Dưới bàn tay của người giáo sư Pháp, Arsenal có được sự hồi sinh rực rỡ. Những thay đổi táo bạo trong chiến thuật, cách huấn luyện, chuyển nhượng của ông, giống như Herbert Chapman khi xưa, đã tạo ra một Arsenal thật sự khác biệt. Không chỉ là một trong những câu lạc bộ có lối chơi quyến rũ nhất thế giới, Arsenal còn nhanh chóng có được những danh hiệu ấn tượng: cú đúp vô địch quốc gia và cup FA mùa giải 1997-98 và 2001-02, đoạt cup FA năm 2003, 2005. Đặc biệt là vô địch quốc gia mùa giải 2003-04 với toàn bộ 38 trận bất bại, một phần trong chuỗi 49 trận bất bại kỷ lục của bóng đá Anh. Gắn với những thành công này là một thế hệ cầu thủ siêu sao do Arsene Wenger phát hiện, đào tạo và dẫn dắt, những người đã tạo nên phong cách vô cùng độc đáo cho Arsenal: Dennis Bergkamp, Patrick Vieira, Nicolas Anelka, Marc Overmars, Thierry Henry... Họ đã lọt vào hai trận chung kết trên đấu trường châu lục, cup UEFA năm 2000 và cup C1 năm 2006 nhưng đều không có được thắng lợi.

Công cuộc trẻ hóa mà Arsene Wenger đang tiến hành tại Arsenal vẫn tiếp tục mang đến những tên tuổi mới đầy tiềm năng: Cesc Fabregas, Abou Diaby, Emmanuel Eboue... Tuy nhiên trong 3 năm gần đây (từ 2005) họ không có danh hiệu đáng kể nào, trừ cúp FA năm 2005.

Arsenal Crest

Vào năm 1888, chỉ sau hai năm thành lập câu lạc bộ, Arsenal khi đó với cái tên là Royal Arsenal đã chọn cho mình crest (huy hiệu, logo) đầu tiên, dựa vào chiếc crest của vùng Woolwich. Chiếc crest này gồm 3 cột tượng trưng cho những khẩu pháo thần công. Ý nghĩa của những khẩu pháo bắt nguồn từ lịch sử quân sự của vùng ngoại vi Woolwich. Royal Arsenal, Royal Artillery Regiment và một vài bệnh viện quân sự khác – hiện vẫn còn nằm rải rác – xuất hiện khắp vùng.

Trong những năm tháng đầu tiên crest không phải là một phần quan trọng biểu trưng cho câu lạc bộ như ngày nay. Đồ thi đấu vẫn còn khá đơn giản trừ khi thi đấu trong một trận đấu quan trọng như trận chung kết FA Cup chẳng hạn và crest thường được dành cho những chương trình trận đấu chính thức hay trong những cuốn tài liệu.

Câu lạc bộ chuyển tới sân Highbury vào năm 1913 và sau đó đổi tên thành Arsenal, Thế chiến thứ nhất đã ảnh hưởng tới bóng đá trong bốn mùa giải và mùa giải 1919/20 bóng đá mới bắt đầu lại, mất một thời gian để ổn định.

Trong suốt thời gian này không có crest theo đúng nghĩa nhưng vào trận đấu đầu tiên của mùa giải 1922/23 khi các chàng pháo thủ gặp Burnley, một crest mới của câu lạc bộ đã được công bố – đó là một khẩu thần công trông rất khí thế và trở thành niềm tự hào của Royal Arsenal.

Những khẩu pháo thần công thẳng đứng đã được thay thế bằng thiết kế mới – một khẩu thần công chĩa về phía đông. Đầu mùa giải 1925/26 The Gunners đã đổi crest thành hình khẩu pháo nhỏ hơn, chỉ về phía Tây với dòng chữ khắc "The Gunners" bên cạnh.

Crest khẩu pháo này vẫn xuất hiện trong những trận đấu của Arsenal và trong các tạp chí xuất bản trong 17 mùa giải. Nó thay đổi không đáng kể theo thời gian và cuối cùng dòng chữ đã biến mất nhưng mặc dù đã bị crest với dòng chữ Victoria Concordia Crescit "chiếm" mất vào năm 1949, nó vẫn còn là biểu tượng cơ bản của câu lạc bộ từ đó tới nay, là nét đặc trưng trên các sản phẩm hàng hóa và không thay đổi cho tới tận bây giờ.

Crest VCC, một thay thế mới đã là biểu tượng cho Arsenal kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên trong một tờ tạp chí bóng đá mùa giải 1949/50. Trong trận đấu cuối cùng của mùa giải 1947/48 – mùa giải mà Arsenal đã vô địch, Harry Homer, biên tập viên chương trình của ngày hôm đó đã viết:

"... tâm trí tôi cứ mải mê tìm kiếm một lời trích dẫn hợp lý để khép lại một mùa giải tuyệt vời với Tom Whittaker, Joe Mercer tất cả những ai có liên quan tới The Gunners. Vậy thì sao chúng ta không dùng tiếng Latin nhỉ? Victoria Concordia Crescit. Dịch ra có nghĩa là: Chiến thắng đến từ sự hài hoà (Victory grows out of harmony).

Hai mùa giải sau đó Arsenal đã công bố crest mới với châm ngôn tiếng Latin ấy.

Trong vòng 53 năm crest này hầu như không hề bị thay đổi mặc dù đầu mùa giải 2001/02 nó đã được thu gọn một phần. Vào năm 2002 câu lạc bộ cho ra mắt một crest mới vì hai lí do.

Thứ nhất là vì chiếc crest VCC kết hợp quá nhiều yếu tố riêng do đó đội bóng khó sao chép vì vấn đề bản quyền.

Thứ hai, đó là một trong những mục tiêu đầu tiên của đội bóng – nắm lấy tương lai và tiến về phía trước. Với một sân vận động mới sắp tới và những thách thức để đạt được những danh hiệu trong nước và ở châu Âu, đội bóng tin rằng đây là thời gian lý tưởng để đưa ra một crest mới.

Thành tích
Cúp vô địch quốc gia: 13
1931, 1933, 1934, 1935, 1938, 1948, 1953, 1971, 1989, 1991
1998, 2002 & 2004
Cúp FA: 10
1930, 1936, 1950, 1971, 1979, 1993, 1998, 2002, 2003, 2005
Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 2
1987, 1993
Siêu cúp bóng đá Anh: 12
1930, 1931, 1933, 1934, 1938, 1948, 1953, 1991*, 1998, 1999
2002, 2004
(* đồng đoạt cúp)
Cúp C2: 1
1994
Cúp UEFA: 1 
1970

Hồ sơ: Câu lạc bô Aberdeen

CLB bóng đá Aberdeen (còn được biết với các biệt danh The Dons, The Dandies, The Reds hay The Dandy Dons) là đội bóng đá chuyên nghiệp ở Aberdeen, Scotland. Họ thi đấu ở giải ngoại hạng Scotland SPL và là một trong những đội bóng thành công nhất ở đất nước họ, với 4 chức VĐQG và 7 cúp quốc gia, trong đó có 3 chức vô địch liên tiếp vào thập niên 80, chỉ có một đội bóng khác là Rangers làm được điều tương tự vào năm 1882. Họ là đội duy nhất của Scotland giành 2 chiếc cúp Châu Âu trong cùng một năm. Mặc dù từng lọt vào trận chung kết cúp quốc gia và cúp liên đoàn vào năm 2000 nhưng Aberdeen đã không có bất kỳ danh hiệu nào từ năm 1995.

Được thành lập vào năm 1903 từ kết quả của việc hợp nhất 3 CLB vùng Aberdeen, họ hiếm khi tranh chấp danh hiệu cho đến thập niên 50, khi giành những danh hiệu lớn dưới thời HLV Dave Halliday. Mức độ thành công còn vượt trội hơn vào thập niên 80 dưới thời HLV Alex Ferguson, họ giành 3 chức VĐQG, 4 cúp quốc gia và một League Cup bên cạnh cúp những nhà vô địch Châu Âu và siêu cúp Châu Âu vào năm 1983. 

Aberdeen chơi trên sân nhà Pittodrie kể từ ngày được thành lập. Sân bóng hiện tại có sức chứa 22.199 chỗ ngồi và có mái che như các sân ở Anh.Pittodrie cũng là sân bóng đầu tiên có khu vực dành cho 2 đội, được sáng tạo bởi cầu thủ và HLV Donald Colman.

Lịch sử

Sự thành lập và những khó khăn ban đầu(1903–1939)

Aberdeen F.C hiện tại được thành lập dựa trên sự sát nhật của 3 CLB Aberdeen, Victoria United và Orion vào năm 1903. CLB mới chơi trận đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 1903, hòa 1-1 với đội bóng Stenhousemuir. Mùa bóng đầu tiên họ chơi ở cúp Aberdeenshire Cup, đến mùa tiếp theo họ được tham dự giải vô địch Scotland tuy nhiên chỉ được chọn ở giải hạng 2 thay vì hạng nhất.

Vào năm 1904, CLB được dẫn dắt bởi HLV Jimmy Philip. Vào cuối mùa bóng mặc dù chỉ đứng thứ 7 trong tổng số 12 đọi nhưng Aberdeen vẫn được chọn tham gia giải hạng nhất mở rộng. Từ năm 1906, CLB có những bước tiến ổn định với việc lọt vào bán kết cúp quốc gia vào năm 1908 và 1011. Mùa giải 1910/11, Aberdeen họ đánh bại cả Rangers và Celtic và vươn lên dẫn đầu giải vô địch tuy nhiên khi kết thúc mùa bóng họ chỉ đứng thứ 2.

Chiến tranh nổ ra gây ảnh hưởng nhiều đối với Aberdeen như bao đội bóng khác. Năm 1917 tình hình trở nên xấu đi, CLB bị rớt xuống hạng dưới bên cảnh Dundee và Raith Rovers. Họ trở lại giải đấu cao nhất vào ngày 16 tháng 8 năm 1919. Philip vẫn nắm quyền và dẫn dắt CLB khá tốt nhưng họ không đủ thực lực để tranh chấp danh hiệu. Năm 1923, Aberdeen gặp Peterhead ở cúp quốc gia và họ đã lập nên kỷ lục ghi bàn khi giành chiến thắng với kết quả 13-0. Philip nghỉ hưu một năm sau đó và được thay thế bởi HLV Paddy Travers. Ông này đưa đội bóng đến trận chung kết quốc gia đầu tiên vào năm 1937.

Người huấn luyện của Travers(HLV đội 1 theo cách nói hiện đại) là cựu cầu thủ Donald Colman. Colman có nhiều sáng kiến độc đáo về bóng đá, và đã sáng tạo ra dug-out(khu vực mái che cho 2 đội).  Everton khi viếng thăm Pittodrie đã được giới thiệu về tưởng này mà họ đã mang về áp dụng ở giải vô địch Anh, không lâu sau dug-out được nhân rộng trên toàn thế giới. Travers rời CLB để trở thành HLV của  Clyde vào năm 1939, thay thế cho ông là Dave Halliday.

Bước tiến ổn định (1945–1978)

Halliday được ghi danh vào ngôi nhà các huyền thoại của Aberdeen khi trở thành HLV đầu tiên mang về chức VĐQG cho CLB. Aberdeen lọt đến trận chung kết cúp quốc gia vào năm 1947 đánh bại Hibernian với tỉ số 2–1 nhờ sự tỏa sáng của Hamilton. Từ thành công đầu tiên đó, đội bóng của Halliday tiếp tục lọt vào trận chung kết cúp quốc gia vào các năm 1953 và 1954, mặc dù thua cả 2. Tuy nhiên mùa giải 1954/55 , Aberdeen lần đầu tiên đoạt chức VĐQG.

Halliday và Hamilton rời CLB vào cuối mùa bóng. Halliday được thay thế bởi Davie Shaw. Aberdeen giành cúp liên đoàn dưới sự dẫn dắt của ông này, đánh bại St. Mirren vào mùa 1955/56, họ lọt đến trận chung kết cúp quốc gia vào năm 1959. Tuy nhiên Shaw sau đó ra đi để nhường chỗ cho cựu cầu thủ được yêu mến Tommy Pearson vào năm 1959. Thời gian Pearson cầm quyền Aberdeen không giành được danh hiệu nào. Ông đã quyết định nghỉ hưu vào năm 1965, mở đường cho Eddie Turnbull. Turnbull dẫn dắt Aberdeen lọt vào 2 trận chung kết cúp quốc gia gặp Celtic, họ thua vào năm 1967 nhưng đã phục thù thành công 3 năm sau đó.

Aberdeen thập niên 70 thường xuyên cạnh tranh chức vô địch trong nước. Tuy nhiên, họ hiếm khi giành được danh hiệu lớn ngoại trừ cúp liên đoàn năm 1976 dưới thời HLV Ally MacLeod. Trong thập kỷ này, Aberdeen trải qua 5 đời HLV, Eddie Turnbull, Jimmy Bonthrone, Ally MacLeod, Billy McNeill và Alex Ferguson. Họ đạt đến 2 trận chung kết cúp quốc gia - Cúp quốc gia vào năm 1978 dưới thời Billy McNeill và cúp liên đoàn mùa bóng sau đó dưới thời tân HLV Alex Ferguson.

Kỷ nguyên của Alex Ferguson(1978–1986)

Dưới thời Alex Ferguson, CLB giành 3 chức VDQG, 4 cúp quốc gia, cúp Châu Âu, siêu cúp Châu Âu và cúp liên đoàn - trong vòng 7 năm.

Sir Alex Ferguson từng dẫn dắt Aberdeen

Đội hình lúc đó có các cầu thủ như Jim Leighton, Willie Miller, Alex McLeish và Gordon Strachan trở thành trục xương sống của đội. Chức VDQG thứ 2 của Aberdeen đến vào mùa bóng 1979/80, đó là sự khởi đầu của những thành công tiếp theo. từ năm 1982 đến 1985.

Ở cúp các nhà vô địch Châu Âu vào năm 1983, Aberdeen đánh bại FC Sion, Dinamo Tirana và Lech Poznań để đối mặt với Bayern München. Trận đấu kết thúc với phần thắng 3-2 tại Pittodrie sau khi lượt đi kết thúc với tỉ số hòa ở Đức. Sau đó họ cham trán CLB Waterschei của Bỉ ở bán kết. Aberdeen đánh bại họ 5-1 trên sân nhà và chỉ để thua 0-1 trên sân khách, kết quả này đưa họ vào chơi trận chung kết. Trong trận chung kết diễn ra vào ngày 11 tháng 5 năm 1983, Aberdeen vượt qua Real Madrid với tỉ số 2-1, điều này đồng nghĩa họ đã giành cúp Châu Âu. Vào tháng 12 họ tiếp tục đanh bại Hamburg SV ở cả 2 lượt trận để giành siêu cúp Châu Âu.

Những năm gần đây (từ 1987 đến nay)

Sau sự ra đi của Ferguson, các HLV kế vị cố gắng duy trì thành công nhưng họ không thể mang về những danh hiệu lớn như trước đó. Điểm thấp nhất trong lịch sử CLB diễn ra vào mùa giải 1999/2000, khi họ đứng cuối bảng xếp hạng SPL. Tuy nhiên may mắn cho Aberdeen khi giải vô địch lúc đó mở rộng thành 12 đội và đội Falkirk không đủ điều kiện tham dự nên họ vẫn không bị xuống hạng.

Aberdeen đã ký hợp đồng với 2 đồng HLV vào năm 1989, Alex Smith và Jocky Scott. Một số cầu thủ người nước ngoài cũng được mang về bao gồm tuyển thủ Hà Lan Theo Snelders hay Hans Gillhaus. Mùa giải 1989/90, CLB giành cả cúp quốc gia và cúp liên đoàn. Ở mùa tiếp theo, họ thua trận cuối ở SPL và để tuột chức vào tay Rangers. Willie Miller lên nắm quyền vào năm 1992 và dẫn dắt 2 mùa bóng khá thành công. Tuy nhiên, ông bị sa thải vào năm 1995 sau một mùa giải tồi tệ, Aberdeen chỉ trụ hạng sau khi đánh bại Dunfermline Athletic trong trận playoff. Aberdeen thay thế ông bằng Roy Aitken. Mặc dù giành cúp liên đoàn vào năm 1996 nhưng CLB vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Alex Miller và Paul Hegarty chỉ dẫn dắt Aberdeen một giai đoạn ngắn vào cuối thập niên 90.

Aberdeen có HLV người nước ngoài đầu tiên, Ebbe Skovdahl, vào năm 1999/ Tuy nhiên sau một vài thất bại nặng nề ông bị sa thải. Thay thế cho ông là Steve Paterson. Nhưng Paterson cũng chỉ dẫn dắt được 2 mùa giải trước khi bị trảm, Jimmy Calderwood lên nắm quyền vào năm 2004, Aberdeen kể từ đó chơi ổn định hơn trước. Mùa giải 2006/07, CLB đứng thứ 3 ở giải vô địch và giành quyền tham dự UEFA Cup. Thế nhưng sau khi giúp Aberdeen đứng thứ 4 ở giải vô địch, ngày 24 tháng 5 năm 2009, Calderwood bị sa thải. Người được chỉ định thay thế là Mark McGhee của Motherwell.

Thành tích

Vô địch quốc gia
Champions (4): 1954–55; 1979–80; 1983–84; 1984–85

Cúp quốc gia
Winners (7): 1947; 1970; 1982; 1983; 1984; 1986; 1990

Cúp liên đoàn
Winners (5): 1955–56; 1976–77; 1985–86; 1989–90; 1995–96

Cúp các đôi vô địch Châu Âu
Champions (1): 1983

Siêu cúp Châu Âu
Champions (1) : 1983